6 nguyên nhân có thể khiến thị trường chứng khoán lao dốc

Một trong những lý do chủ yếu là do đầu cơ tràn lan 1 một vàih quá khích.

Trong 100 năm vừa qua, phân khúc chứng khoán địa cầu đã lao dốc nhiều lần. Các cuộc Đại Khủng Hoảng năm 1929, Ngày Thứ Hai Đen Tối 1987, Đại khủng hoảng 2007-2009 là những cơn đau tồi tệ nhất một vài nhà đầu tư trải qua. Nhiều nhà đầu tư đã vỡ mộng chỉ sau những cú sụt giảm trong vài tuần và có người phải nhảy lầu tự tử.

Mặc dù lý do cụ thể của mỗi đợt lao dốc là khác nhau và đều khá phức tạp, tóm lại thì một vài cú sụp đổ thường được gây ra bởi sự kết hợp giữa đầu cơ , đòn bẩy quá cao và một vài nhân tố chủ chốt khác.

1. Đầu cơ

Một trong những lý do chủ yếu là do đầu cơ tràn lan 1 một vàih quá khích. Cuộc Đại khủng hoảng năm 1929 hay bong bóng dotcom là ví dụ điển hình cho đầu cơ cổ phiếu. Năm 1929, trong khi giá cổ phiếu đã được đẩy lên đến mức điên rồ thì số người thất nghiệp lại cao kỷ lục và sản xuất bị bó hẹp, hệ thống ngân hàng ngập nợ xấu. Đây là cơn bão gây ra sự sụp đổ phố Wall, sau đây mau chóng lan ra tạo thành cả mảng tối tăm cho nền tài chính Châu Âu, và là 1 lý do quan trọng gây nên Đại chiến địa cầu II.

Cũng có lý do đầu cơ, cuộc khủng hoảng cổ phiếu công nghệ đã diễn ra đầu những năm 2000. Hậu quả là trong 6 năm sự thao túng giá cổ phiếu công nghệ đưa Nasdaq tăng 400%, và cũng chính sự thao túng đưa chỉ số này từ mốc 5046 giảm về mốc 1114 điểm.

Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng 2007-2009, thay bằng cổ phiếu thì nhà đất lại là đối tượng của xới bạc. Thậm chí, 1 số cuộc khủng hoảng còn bắt nguồn từ đầu cơ những hàng hóa điên rồ như hoa tulip, hay tiền số …

Điểm chung là trước một vài cuộc khủng hoảng, xuất hiện một vài cơn sốt bất thường dành cho 1 thứ tài sản hay vật chất nào đây vốn được chuyển nhượng ổn định trong thời gian dài. Hậu quả của chuỗi ngày đầu cơ là đưa phân khúc chìm trong chuỗi ngày đau đớn và 1 cái kết: nhiều người mất trắng tiền tích lũy cả đời.

2. Đòn bẩy tài chính quá lớn

Nhiều người cho rằng,đòn bẩy tài chính trong thời cuộc thuận lợi là bước đi thông thái để tăng giá trị thu về.

Hãy tưởng tượng, giả dụ 1 nhà đầu tư A nào đây đổ vào 162.000 USD mua 1 cổ phiếu Berkshire cho phân khúc trong những ngày giá tăng có kỳ vọng lợi suất 20% cuối năm. Nếu giờ ông A vay thêm 162.000 USD từ công ty chứng khoán (CTCK) có tỉ lệ vay bình thường 1:1 để mua 1 cổ phiếu Berkshire nữa , tức là cuối năm A muốn thu về khoản lãi 64.800 USD. Hãy nhớ, ông vẫn mất phí môi giới 0.04% và lãi vay margin 14%/năm.

Nhưng nếu giá cổ phiếu đi ngược lại mong muốn của ông A, giả định rằng mức sụt giảm là 35%, vậy A lỗ 113.400 USD cho cả hai cổ phiếu. Ngoài ra, còn phí môi giới và khoản lãi 14% vay trị giá 22.680 USD. Vậy A mất 136.080 USD, trong khi đầu tư 162.000 USD. Trong thực tại, trường hợp giá cổ phiếu giảm đến mức 30-40%, một vài CTCK sẽ ép nhà đầu tư phân phối giải chấp, chứ A không được nắm giữ cổ phiếu BRKA. Mà lực phân phối càng tăng trên bảng giá, cổ phiếu càng rơi mạnh.

Tiêu biểu cho hậu quả hiện trạng vay margin cao toàn phân khúc, chính là những “đêm đen ” trong Đại khủng hoảng 1929 đưa nền tài chính địa cầu vào nơi tăm tối. Vay margin cao là con các con phố có thể đưa người ta vào vòng xoáy nợ không lối thoát, có thể khiến nhiều nhà đầu tư khánh kiệt có tài sản đã tích cóp trong nhiều năm.

3. Lạm phát và chênh lệch lãi suất

Nhìn chung, chênh lệch lãi suất và lạm phát đều ảnh hưởng tiêu cực đến cổ phiếu và nền kinh tế, đặc thù đúng có một vài ngành nóng. Một ví dụ thực tại, nếu một vài tờ báo cho KH biết lợi suất trái phiếu Mỹ chuẩn bị tăng lên mức 3%, và cổ phiếu nhóm nhà đất (REIT) chuẩn bị thu về mức lãi 5%, đa phần một vài nhà đầu tư sẽ chọn cổ phiếu nhà đất.

Nhưng trường hợp sau đây lợi suất trái phiếu Mỹ tăng thêm lên mức 4%, lợi tức chuẩn bị của cổ phiếu nhà đất vẫn giữ nguyên là 5%. Nhưng cổ phiếu lại bị coi là phân khúc đầy rủi ro, trái phiếu Mỹ lại được coi là vùng an toàn hơn – nên dòng vốn sẽ chảy vào phân khúc trái phiếu.

Nhưng nếu giữ lãi suất trái phiếu Mỹ ở mức 4% còn lợi tức một vài cổ phiếu nhóm REIT tăng lên 6%, thì dòng vốn rất có thể lại đổ vào nhà đất- vì mức 6% được coi là mức cao trong bất đống sản. Thị trường cổ phiếu càng bị coi rẻ thì phân khúc trái phiếu càng đắt lên, đây là một vàih mà dòng tiền làm việc.

Từ góc độ kinh tế, lãi suất tăng đồng nghĩa kinh phí vay mượn tăng, kéo theo làm việc của nền kinh tế trùng xuống và có thể khiến TTCK giảm điểm.

4. Rủi ro địa chính trị

Thị trường chứng khoán sẽ chẳng thể phản ứng tích cực nếu xảy ra cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, hay 1 cuộc khủng hoảng hạt nhân trên phân phối đảo Triều Tiên.

Thị trường thích giữ ổn định, và rủi ro từ một vài cơn căng thẳng của một vài phe đối lập trên chính trường hay diện tích chiến tranh thường có lại kết quả ngược lại. Các căng thẳng trong những ngày có tin báo khủng hoảng tên lửa vịnh Cuba, vụ đâm máy bay vào Tòa Tháp Đôi ngày 11/09, gần đây nhất là căng thẳng trên phân phối đảo Triều Tiên đều khiến phân khúc lâm vào nhiều phiên sụt giảm mạnh.

5. Thuế

Các chinh sách giảm thuế thường kích thích tăng trưởng kinh tế và đưa lại tài liệu tích cực cho phân khúc, tiêu biểu là Sắc lệnh giảm Thuế của tổng thống Trump năm 2017 vừa qua đã tạo đà đưa Dow Jones đi lên liên tục.

Bên cạnh đây, nhìn lại lịch sử, chính phủ có thể thực hiện chính sách phân phối hàng tăng thuế trên lương bổng của người lao động và cả giới chủ, nhằm tăng khả năng chi trả từ Quỹ bảo hiểm xã hội. Hậu quả là giảm đồng lương bổng giai đoạn này cho công nhân và tăng chi phi sản xuất cho giới chủ, tạo ra những cơn sụt giảm mạnh mẽ trên phân khúc chứng khoán. Ngoài ra, phân khúc cũng chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ tiên đoán tăng một vài loại thuế khác và thuế lương bổng công ty trong tương lai

6. Nỗi sợ trên phân khúc

Ban đầu, phân khúc lao dốc bởi nhiều sự kiện do thuế, lãi suất, đầu cơ… Nhưng sau 1 thời gian dài, nỗi sợ sẽ khiến nhiều nhà đầu tư hoảng loạn. Bán tháo diễn ra trên diện rộng. Đó là hiện trạng chung trong một vài cuộc khủng hoảng.

Một điển hình tiêu biểu, nhìn lại một vài nhà đầu tư có thể thấy bong bóng đầu cơ nhà đất và nợ vay quá lớn có người tiêu dùng là hai lý do chính đẩy phân khúc lâm vào khủng hoảng trong những ngày năm 2008-2009. Nhưng trên phân khúc chứng khoán, nỗi sợ mới là thứ điều khiển một vài nhà đầu tư nhiều nhất – sau khi hàng tít trên một vài báo cho biết hệ thống ngân hàng đổ sập bao gồm Merrill Lynch và Freddie Mac, thì cơn báo tháo mới diễn ra khủng khiếp trên toàn phân khúc đưa đến viễn cảnh chẳng thể tin nổi, làm nhiều tài khoản bốc hơi.

Vì sao phân khúc chứng khoán thường tăng mạnh ngay sau khi một vài cuộc chiến nổ ra?

Theo Lê Quang

Trí thức trẻ

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *