Khó phát triển thuê bao trả sau vì sợ… nợ xấu?

Do thuê bao trả sau là dùng dịch vụ trước và trả tiền sau nên có nguy cơ bị bạn “bùng tiền”…

Phía sau câu chuyện khó phát triển thuê bao trả sau không hẳn nằm ở rào cản thủ tục, phí thuê bao hàng tháng hay 1 số chính sách phân phối hàng khuyến mại… Có những vấn đề “thầm lặng” đối có thuê bao trả sau mà nhà mạng chưa nói tới.

Thống kê của Cục Viễn thông (Bộ Thông tin và Truyền thông), tính đến hết tháng 2/2018, cả nước có 119,5 triệu thuê bao phát sinh cước, trong đó, thuê bao 2G trả trước là 71 triệu, thuê bao 3G trả trước là 44,4 triệu. Như vậy, số thuê bao trả trước đang là 115,4 triệu, chiếm tới 96,5% tổng số thuê bao liên hệ di động cả nước.

Số thuê bao trả sau, còn lại, chỉ vẻn vẹn 4,1 triệu, chiếm dao động 3,4%.

Ồn ã trả trước, đìu hiu trả sau

Với số thuê bao trả sau như trên, tính ra, trong tổng số 5 nhà mạng đang vận hành giai đoạn này, trung bình mỗi mạng chỉ có chưa đầy 1 triệu thuê bao. Trên thực tại, số lượng thuê bao trả sau này chủ yếu tập trung ở ba nhà mạng lớn là VinaPhone, Viettel và MobiFone.

Tính theo chiều dài lịch sử của ngành viễn thông di động, 25 năm, thì, 1 ngày 1 số nhà mạng tạo ra 449,3 số thuê bao trả sau. Trong khi đó, số thuê bao di động trả trước là 12.646,6 thuê bao/ngày, bằng 28 lần so có trả sau. Ở những thời điểm tổng số thuê bao di động cao hơn (những năm 2010, 2011), khi con số lên tới trên dưới 170 triệu thuê bao thì số lượng thuê bao trả trước được phát triển mỗi ngày cũng như mật độ của thuê bao này so có trả sau còn cao hơn rất nhiều.

Sự phát triển thuê bao ồ ạt trong suốt thời gian dài từ 2007 – 2014, đặc trưng có những thời điểm như 2010-2011, tổng số thuê bao di động còn vượt khá xa so có tổng dân số (trung bình mỗi người dân có trên 2 số thuê bao liên hệ), là do mục tiêu phổ cập người dùng liên hệ, do vậy 1 số chính sách phân phối hàng điều chỉnh, quản lý vẫn chưa nghiêm ngặt. Nhờ đó 1 số nhà mạng đua nhau phát triển thuê bao mới để mở rộng, chiếm lĩnh thị phần.

Tuy nhiên, trong cơn lốc phát triển thuê bao liên hệ di động thì chủ yếu là thuê bao trả trước, ồn ã có 1 số chương trình khuyến mại, 1 số SIM có tài khoản khủng, còn thuê bao trả sau chỉ đìu hìu, lặng lẽ.

Thực tế, thuê bao trả sau trung thành, ổn định và tạo ra doanh thu (ARPU) cho nhà mạng nhiều hơn, trung bình từ 200 – 300 nghìn đồng/tháng, trong khi đó thuê bao trả trước ARPU chỉ dao động 50 nghìn đồng, thậm chí chỉ 20-30 nghìn đồng/tháng và đó là cội nguồn của SIM rác, tuy vậy, 1 số mạng vẫn ít quan tâm và không có nhiều chính sách phân phối hàng lôi kéo và phát triển thuê bao trả sau.

Đại diện 1 nhà mạng (yêu cầu không nêu tên) chia sẻ, thực tại không phải nhà mạng không muốn phát triển thuê bao trả sau nhưng trước áp lực về thị phần nên đã đua nhau phát triển thuê bao trả trước, nếu mình đứng ngoài cuộc sẽ bị mất thị phần và bị tụt lại phía ngay. Vị này cũng không giấu giếm, cho biết, 1 số nhà mạng chạy đua phát triển thuê bao như những năm trước đó thực chất là chạy đua phát triển SIM rác, mà đã SIM rác thì chỉ có thể phát triển trả trước, chẳng thể phát triển trả sau được.

Ngại rủi ro từ thuê bao trả sau!

Trong vận hành kinh doanh, thu được tiền trước bao giờ cũng lợi và hiệu quả hơn là thu sau. Bỏ ngoài nhân tố này, nguyên nhân viện dẫn của việc cản trở phát triển thuê bao trả sau lâu nay là do mất phí thuê bao hàng tháng (trung bình là 49 nghìn đồng), thủ tục đăng ký hòa mạng thuê bao phức tạp, và đặc trưng là thuê bao trả sau cũng không có nhiều 1 số chính sách phân phối hàng khuyến mại nhiều và lớn như trả trước.

Nhưng bản chất không hẳn vậy. Theo chia sẻ từ đại diện 1 số nhà mạng thì giá thành để phát triển thuê bao trả sau rất cao, hơn nhiều so có trả trả trước. Ví dụ bỏ ra 1 tỷ để phát triển thuê bao trả sau (quảng cáo, truyền thông, phân phối hàng…) thì tổng doanh thu sau 1 tháng chỉ dao động 200 triệu và sau 5 tháng thì “rụng dần” và kết quả là doanh thu không đủ bù đắp giá thành. Trong khi đó, cũng khoản tiền này, nếu “đổ” vào trả trước thì tháng đầu tiền đã có thể thu về 500 triệu, tháng thứ hai dao động 300 triệu và coi như đã hòa vốn mục tiêu.

“Bỏ 1 đồng tiền khuyến mại thì thuê bao trả sau phản hồi ít hơn, đăng ký ít hơn, nhưng cũng đồng tiền đó, thuê bao trả trước lại rất dễ (mức độ phản hồi), đăng ký nhiều, nên dần dần nó bị xu thế lái sang thuê bao trả trước”, đại diện nhiều mạng cộng quan điểm.

Lý do thứ hai, quan trọng hơn, là… nợ xấu. Theo lãnh đạo 1 nhà mạng lớn, do thuê bao trả sau là dùng dịch vụ trước và trả tiền sau nên có nguy cơ bị bạn “bùng tiền”. Trường hợp này, nếu nhà mạng đi đòi hoặc đi kiện bạn thì sẽ tạo ra 1 dư luận rất xấu trong xã hội. Nhưng nếu không đòi thì “từ 1 số đốm nhỏ sẽ lan ra thành ngọn lửa lớn”, nhiều người biết thế làm theo, có thể nhân lên, bùng phát và ảnh hưởng trên diện tích diện rộng.

“Phát triển được thuê bao trả sau nhà mạng không phải đã yên tâm mà vấn đề phải thu được cước của bạn nữa. Nếu không thu được cước thì nhà mạng coi như… sập tiệm”, vị lãnh đạo trên nói. Ông cho biết, 1 số nhà mạng bình thường sẽ duy trì mật độ nợ xấu dưới 2%, còn khi đã vượt lên từ 3-5% là có vấn đề và khó có thể kiểm soát được. Con số nợ xấu trên, tuy không lớn, vì 1 số nhà mạng còn khuyến mại lên tới 50% giá trị thẻ nạp, nhưng theo vị lãnh đạo này, nó kéo theo vô vàn hệ lụy về sổ sách, pháp lý, kế toán…

Ông cũng thẳng thắn chia sẻ rằng, cũng bởi lo ngại nợ xấu mà 1 số nhà mạng đã phải “đẻ ra 1 mớ 1 số thủ tục” và nghiêm ngặt có rất nhiều ràng buộc trong hợp đồng đối có thuê bao trả sau để tránh nguy cơ bị bạn không trả tiền, chứ không mạng nào muốn gây khó cho bạn về thủ tục cả.

Gần đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thực hiện những chính sách phân phối hàng bước đầu nhằm thúc đẩy phát triển thuê bao trả sau. Ví dụ như chính sách phân phối hàng khuyến mại chỉ 20% có thuê bao trả trước và 50% có trả sau (Thông tư 47, có hiệu lực từ 1/3/2018). Sau 1 thời gian, số thuê bao trả sau phát triển mới là hơn 130 nghìn. Con số này dĩ nhiên là vô cộng nhỏ và chưa nói lên điều gì bởi theo đại diện 1 nhà mạng, không làm gì thì số thuê bao trả sau của 1 số nhà mạng cũng phát triển được gần bằng con số này.

Nên điều quan trọng nhất có việc phát triển thuê bao trả sau thực chất là nhà mạng có muốn hay không. Việc thúc đẩy phát triển thuê bao trả sau phải là sự hài hòa giữa 1 số chính sách phân phối hàng quản lý, thúc đẩy và vấn đề kiểm soát được rủi ro và hiệu quả trong quản lý dòng tiền, trong vận hành kinh doanh của nhà mạng như đã đánh giá ở trên.

Hàng chục triệu thuê bao di động 11 số sắp chuyển thành 10 số

Theo Thủy Diệu

VnEconomy

Căn hộ Waterina Suites nằm trong dòng căn hộ đẳng cấp nằm trong trọng điểm hành chính quận 2 thuộc phường Thạnh Mỹ Lợi, đó chính là sản phẩm liên doanh giữa Công ty Thiên Đức và Maeda Jimusho (Nhật Bản). Xem thêm tài liệu https://waterinasuites.info/#gia-ban-waterina-suites

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *