Nợ xấu của các ngân hàng niêm yết đang ở mức nào?

Thời điểm này đa số mhững ngân hàng đã ra mắt kết quả kinh doanh quý 1 cũng như kết quả xử lý nợ xấu và trích lập dự phòng.

Theo báo cáo kết quả kinh doanh quý 1 của Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), kinh phí dự phòng tăng 19,5% lên 692 tỷ đồng, gồm 663,6 tỷ đồng dự phòng cụ thể và 39,7 tỷ đồng dự phòng chung cho vay bạn.

Tổng nợ xấu xử lý trong quý 1 của MB là 345 tỷ đồng. Sau khi xử lý 345 tỷ đồng nợ xấu trong quý 1, mật độ nợ xấu của MB là 1,41% so có mức 1,2% vào cuối năm 2017. Dư nợ xấu là 2.730 tỷ đồng, tăng 23% so có đầu năm.

Trong đây, nợ nhóm 3 chiếm 0,68% tổng dư nợ, tăng 78,1% so có đầu năm lên 1.310 tỷ đồng. Nợ nhóm 4 chiếm 0,32% tổng dư nợ, giảm 8,3% so có đầu năm xuống 613 tỷ đồng. Nợ nhóm 5 chiếm 0,42% tổng dư nợ, giảm 0,8% so có đầu năm xuống 807 tỷ đồng.

Trong khi đây, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng ra mắt kinh phí dự phòng tăng mạnh 156,07% so có cộng kỳ, lên 6.013 tỷ đồng. Trong đây, 215 tỷ đồng kinh phí dự phòng chung cho vay bạn; 7.794 tỷ đồng kinh phí dự phòng cụ thể cho vay bạn (tăng 60,2% so có cộng kỳ).

Trên thực ở, mhững ngân hàng có thể hoán đổi lại trái phiếu VAMC và nhận lại nợ xấu cộng tài sản chắc chắn do VAMC nắm giữ, để thực hiện trích lập hoàn toàn và xóa nợ, hoặc tự xử lý có điều kiện mật độ nợ xấu thấp hơn 3% sau khi hoán đổi lại.

Bên cạnh việc trích lập dự phòng ở mức cao kỷ lục, BIDV cũng xóa 9.077 tỷ đồng nợ xấu trong quý 1, tương đương 1,03% tổng dư nợ. ngân hàng đã trích lập tổng cộng 42.823 tỷ đồng kinh phí dự phòng từ năm 2014 đến quý 1/2018, tương đương 9% tổng dư nợ năm 2014. Cùng có đây, BIDV cũng xử lý tổng cộng 33.392 tỷ đồng nợ xấu, tương đương 7% tổng dư nợ năm 2014.

 Nợ xấu của mhững ngân hàng niêm yết đang ở mức nào? - Ảnh 1.

Tính đến hết quý 1/2018, mật độ nợ xấu sau xử lý ở BIDV là 1,62% so có mức 1,61% vào cuối năm 2017. Nợ mới hình thành chỉ là 259 tỷ đồng trong quý 1/2018. Cụ thể: Nợ nhóm 3 là 4.766 tỷ đồng, tương đương 0,54% tổng dư nợ. Nợ nhóm 4 là 3.544 tỷ đồng, tương đương 0,4% tổng dư nợ. Và nợ nhóm 5 là 5.898 tỷ đồng, tương đương 0,67% tổng dư nợ.

Trong số mhững ngân hàng niêm yết, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) là ngân hàng có mật độ nợ xấu sau xử lý không đổi, ở mức 0,71% so có nức này vào cuối năm 2017. ACB cũng là ngân hàng có mật độ nợ nhóm 4 và nợ nhóm 5 tăng mạnh trong quý đầu năm.

Cụ thể, nợ nhóm 3 giảm 31,2% so có đầu năm còn 224 tỷ đồng, tương đương 0,11% tổng dư nợ. Nợ nhóm 4 tăng 55,5% so có đầu năm lên 428 tỷ đồng, tương đương 0,20% tổng dư nợ. Nợ nhóm 5 tăng 4,7% so có đầu năm lên 825 tỷ đồng tương đương 0,39% tổng dư nợ.

Chi phí dự phòng của ACB cũng giảm mạnh 78% so có cộng kỳ, còn 134 tỷ đồng. Trong đây, 129,12 tỷ đồng là dự phòng chung cho vay, và chỉ 16,23 tỷ đồng là dự phòng cụ thể. ACB đã xử lý tất cả trái phiếu VAMC trong năm 2017 và không cần phải trích lập dự phòng cho trái phiếu đặc trưng này kể từ năm 2018.

Do ACB đã trích lập xong tất cả mhững tài sản tồn đọng liên quan đến nhóm 6 doanh nghiệp liên quan đến bầu Kiên, nên kinh phí dự phòng giảm 77,93% so có cộng kỳ.

Cùng có kinh phí dự phòng giảm như ACB, Ngân hàng LienVietPostBank (LPB), ra mắt kinh phí dự phòng giảm 73,71% so có quý 1/2017, xuống 61,16 tỷ đồng. Toàn bộ 61,16 tỷ đồng kinh phí dự phòng là trích lập cho trái phiếu VAMC.

Tỷ lệ nợ xấu sau xử lý của LPB ở mức 1,07% và cũng chỉ có 79,74 tỷ đồng nợ xấu hình thành mới trong quý 1.

Phân loại mhững khoản vay của LPB gồm: Nợ nhóm 3 tăng 45,91% so có cộng kỳ lên 276 tỷ đồng, tương đương 0,26% tổng dư nợ; Nợ nhóm 4 giảm 3,43% so có cộng kỳ xuống 148 tỷ đồng, tương đương 0,14% tổng dư nợ; Nợ nhóm 5 không đổi, là 728 tỷ đồng, tương đương 0,67% tổng dư nợ.

Với Eximbank, kinh phí dự phòng quý 1 tăng nhẹ 13,92% so có cộng kỳ lên 151 tỷ đồng. Toàn bộ kinh phí dự phòng trong quý 1 là kinh phí dự phòng cụ thể đối có mhững khoản nợ bình thường.

Eximbank không trích lập dự phòng trái phiếu VAMC trong quý năm nay. Mặc dù vậy, ngân hàng hiện vẫn nắm giữ 5.973 tỷ đồng giá trị trái phiếu VAMC và công đoạn trích lập dự phòng cho số trái phiếu này là 10 năm (10% mỗi năm). Như vậy, EIB sẽ phải trích lập dao động 600 tỷ đồng dự phòng trái phiếu VAMC trong năm nay.

Tỷ lệ nợ xấu sau xử lý là 2,32% (vào cuối năm 2017 là 2,27%). Nợ xấu hình thành mới trong Q1/2018 là 38,59 tỷ đồng. Eximbank đã không xử lý bất kỳ khoản nợ nhóm 5 nào trong quý 1 năm nay, trong khi đây nợ nhóm 2 chiếm 0,61% tổng dư nợ, tăng 36,2% so có đầu năm lên 610 tỷ đồng. Nợ nhóm 3 chiếm 0,88% tổng dư nợ, giảm 0,3% so có đầu năm xuống 811 tỷ đồng. Nợ nhóm 4 chỉ chiếm 0,26% tổng dư nợ, giảm 26,5% so có đầu năm xuống 259 tỷ đồng. Nợ nhóm 5 chiếm 1,19% tổng dư nợ, tăng 12,7% so có đầu năm lên 1.195 tỷ đồng.

Ồ ạt tăng vốn, thứ hạng mhững ngân hàng sẽ mhữngh tân thế nào?

Theo Ngân Giang

Infonet

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *