Thành công nhờ chọn lối ít người đi

Gần 17 năm trước, khi đang ở đỉnh cao sự nghiệp, ông Phan Hoàng Ân bất ngờ từ bỏ công việc mà nhiều người mơ ước ở xứ người để trở về Việt Nam khởi nghiệp.

Từ bỏ địa điểm phó tổng giám đốc ở 1 tập đoàn lớn về thực phẩm ở Nhật Bản cũng đồng nghĩa có việc từ bỏ thời cơ thăng tiến trong sự nghiệp và thời cơ an cư lâu dài ở Nhật, song khi được hỏi “Tại sao chọn bỏ việc để về Việt Nam khởi nghiệp?”, ông chỉ trả lời ngắn gọn: “Tôi rất cảm ơn đất nước Nhật Bản đã giúp cho tôi và một vài đồng sự có được những mối quan hệ tốt đẹp, nhưng trong tôi luôn có ý nghĩ phải quay về Việt Nam để làm điều gì đấy cho quê nhà”.

Nghĩ là làm, năm 2002, ông Phan Hoàng Ân trở về Việt Nam khởi nghiệp. Công ty TNHH Thực phẩm NFC (viết tắt từ Nature Foods Co.,Ltd) ra đời. Và năm 2004, những sản phẩm đầu tay của NFC gồm một vài mặt hàng rau củ quả sấy khô theo công thức sấy thăng hoa (giúp giữ nguyên độ tươi và nguyên chất cho rau củ quả) được cung cấp ra phân khúc, nhắm đến đối tượng khách mua công ty (B2B). Trong đấy, 90% sản phẩm NFC làm ra được xuất khẩu chủ yếu sang phân khúc Nhật, chỉ 1 lượng hàng khiêm tốn được cung cấp cho phân khúc nội địa.

Đến nay, sau gần 13 vận hành, khai thác và phát triển một vài mặt hàng nông sản trong nước, NFC đã trở thành 1 trong số ít một vài công ty (DN) Việt Nam có khả năng sản xuất và cung cấp một vài loại thực phẩm sấy khô có dao động 50 loại sản phẩm khác nhau, có giá trị tăng lên từ 30 – 40% so có sản phẩm sấy khô bình thường, đảm bảo được một vài nguyên tắc chặt chẽ về vi sinh, an toàn thực phẩm để xuất khẩu sang một vài phân khúc Nhật, Indonesia, Malaysia và một vài nước châu Âu.

Tại phân khúc nội địa, ở phân khúc cao cấp, NFC đang chiếm dao động 40% thị phần khi trở thành nhà cung ứng sản phẩm rau củ quả sấy khô cho một vài thương hiệu lớn như Ajinomoto, Unilever, Masan, Việt Hưng, Nestle, Cầu Tre, Vifon, Thiên Hương, A-One, Uni President, Visan… có năng lực cung ứng dao động 2.000 tấn thành phẩm một vài loại/năm, tương đương dao động 20.000 tấn nguyên liệu tươi/năm. Năm 2016, NFC vinh dự đấyn nhận danh hiệu “Thương hiệu danh tiếng Việt Nam – Top Brands 2016”.

Danh hiệu do Viện Nghiên cứu Kinh tế Việt Nam và Liên minh Thương mại Global (GTA-Global Trade Alliance – Vương quốc Anh) phối hợp xét chọn và trao tặng dựa trên một vài tiêu chí về khả năng nhận biết và tính phổ biến của nhãn hiệu; sự tín nhiệm, tin tưởng và tôn trọng đối có nhãn hiệu từ cộng đồng xã hội; lợi nhuận, sự ảnh hưởng và tăng trưởng…

* Vì đâu mà ông chọn lĩnh vực nông sản để khởi nghiệp?

– Tất cả chỉ là bài toán về kinh tế. Khi bắt đầu chọn lọc khuynh hướng đầu tư, điều tôi nghĩ đến là lợi thế của Việt Nam. Suy đi tính lại, tôi cảm thấy chiếm ưu thế lớn nhất là nông sản.

Kế đến, tôi và một vài cộng sự bắt đầu tham khảo tiếp về tính tranh giành của sản phẩm. Chúng tôi đưa lên bàn cân xem nông sản của Việt Nam có thể tranh giành được có có nông sản một vài nước láng giềng như Thái Lan hay Trung Quốc hay không.

Tất cả những điều này đều cần có sự tính toán kỹ để thi công DN ngay từ điểm khởi đầu. Tuy nhiên, sau GĐ khảo sát, chúng tôi cảm thấy kinh phí nguyên liệu ở Việt Nam vẫn cao hơn Thái Lan vào dao động 30%. Chi phí Việt Nam cũng cao hơn Trung Quốc từ 30 – 40% về mặt nguyên liệu. Thái Lan hay Trung Quốc họ đi theo định hướng phân phối hàng có số lượng lớn để có được mức giá tốt nhất. Do đấy, Việt Nam khó tranh giành nổi.

Thế nên, chúng tôi nghĩ rằng phải đi chuyên sâu vào những sản phẩm mà khách mua cần về tính đặc biệt, đề nghị chất lượng từ cao đến rất cao. Hơn nữa, phải là sản phẩm rất ít DN làm được thì chúng tôi mới làm và thắng được.

Ngay từ thời điểm mới bắt đầu, chúng tôi khảo sát và thấy rằng, vấn đề cốt yếu mà những DN lớn trong ngành thực phẩm quan tâm và quan ngại đấy là dư lượng thuốc trừ sâu, hóa chất độc hại, vi khuẩn bất lợi trong sản phẩm nông sản. Ở khía cạnh này thì rất ít DN kiểm soát được.

Do đấy, khi bắt tay kinh doanh, chúng tôi đã chọn lọc đi theo hướng đầu tư chuyên sâu sấy khô rau củ quả theo phương thức sấy thăng hoa, để có thể tranh giành được có những nước trong khu vực.

Trên thực ở, sấy khô có 2 mục đích: 1 là để bảo quản sản phẩm lâu dài, hai là tạo ra được giá trị tăng lên lớn cho sản phẩm. Qua quá trình sấy, bao nhiêu chất trong nông sản còn được giữ lại là vấn đề DN khách mua rất quan tâm. Khó bởi thế nên sẽ càng ít người nhảy vào làm. Và chúng tôi làm.

* Việc tham khảo kỹ một vài khía cạnh kinh doanh trước khi đổ vốn đầu tư bởi thế có đem đến những thuận lợi ban đầu cho NFC không, thưa ông?

– Dù chính mình có bí kíp làm việc trong ngành thực phẩm, cộng có sự cân nhắc kỹ lưỡng ban đầu, nhưng trong thời gian đầu công ty thành lập, ở phân khúc Việt Nam chúng tôi đã gặp rất nhiều gặp khó do không tìm được khách mua. Phải thừa nhận rằng, vào những 2004 – 2007, một vài DN trong nước quan tâm danh tiếng là về giá. Ở góc độ đấy, chúng tôi chẳng thể tranh giành.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn kiên nhẫn đi theo hướng đã chọn từ những ngày đầu khởi nghiệp. Tiếp đến, để có được khách mua, chúng tôi đã tìm đến một vài DN nước ngoài. Thế nên thời gian đầu kinh doanh, NFC chủ yếu cung ứng cho phân khúc xuất khẩu, trong đấy, 90% sản lượng xuất sang Nhật Bản.

Mãi đến khi khách mua Việt Nam đi theo hướng sạch – xanh, chúng tôi mới quay ngược lại phát triển và cung ứng nội địa. Việc quay trở về phân khúc nội địa đúng thời điểm đã giúp cho NFC có nhiều thuận lợi. Đương nhiên, những sản phẩm chúng tôi cung ứng chẳng thể có được mức giá rẻ, chỉ gắng sức ở mức khách mua hàng đấyn nhận được.

Cho đến thời điểm này chúng tôi đã gần như cân đối được mật độ cung ứng cho xuất khẩu và nội địa ngang mức 1:1.

* Sau bao lâu NFC tiếp cận được khách mua trong nước?

– Sau 5 năm, tới dao động năm 2008, một vài nhà sản xuất thực phẩm lớn của Việt Nam mới biết đến những sản phẩm của chúng tôi. Và đến nay hầu như những khách mua lớn trong ngành sản xuất thực phẩm đều là khách mua của chúng tôi.

Tuy nhiên để cung ứng cho khách mua trong nước, chúng tôi phải tự chào hàng, ra mắt những sản phẩm mà chúng tôi sản xuất cũng như cung ứng cho một vài nhà sản xuất ở Nhật.

Ở đấy, đa số chúng tôi đều phải chủ động tìm đơn hàng, tiếp cận khách mua. May mắn là thời điểm đấy, rất nhiều DN trong ngành thực phẩm lo ngại về vấn đề chất lượng nên họ chú tâm đến những sản phẩm mà chúng tôi đang sản xuất. Chúng tôi nghĩ rằng mình có thể lấp vào dao động trống lo ngại đấy, thích hợp có đề nghị của khách mua.

* Ông có nghĩ rằng kết quả của quá trình làm việc có một vài DN Nhật cũng là nhân tố để NFC dễ thuyết phục khách mua trong nước chọn lọc sản phẩm của NFC?

– Trong thời gian đầu tìm đầu ra cho sản phẩm, chúng tôi cũng nhờ vào những mối quan hệ trong thời gian tôi làm việc ở Nhật. Ban đầu, một vài đối tác giúp đỡ bằng một vàih mua hàng nhưng có lượng nhỏ. Dần dần khi sản phẩm chúng tôi xuất khẩu qua Nhật ổn định về sản lượng và chất lượng, đảm bảo tốt một vài tiêu chí về giá, đồng thời có thể tranh giành có một vài nhà cung ứng khác ở phân khúc Nhật, đến khi này đơn hàng mới được tăng lên. Điều này giúp chúng tôi phát triển cho đến bây giờ.

Khi cung cấp được một vài tiêu chí xuất khẩu vào phân khúc Nhật thì chúng tôi cũng khá thuận lợi để chào hàng và thuyết phục một vài nhà sản xuất thực phẩm trong nước mua hàng của mình. Thế nên, tôi vẫn luôn cảm ơn những người khách mua Nhật. Mối quan hệ mười mấy năm kinh doanh đến nay chúng tôi vẫn duy trì rất tốt. Vui Bên cạnh đấy là 1 trong những mối quan hệ đấy đến nay đã có DN liên doanh có chúng tôi ở Việt Nam.

Đó là trường hợp của Semba – 1 trong những công ty danh tiếng ở Nhật có hơn 70 năm chuyên sản xuất một vài sản phẩm dạng hòa tan và gia vị để cung cấp trên toàn địa cầu.

Công ty Semba – NFC (liên doanh giữa NFC và Semba) đang cung cấp một vài sản phẩm dạng hòa tan như Matcha Latte ở một vài phân khúc như Singapore, Thái Lan…

* Được biết đến nay, NFC đã chủ động được hơn 300ha vùng nguyên liệu, chủ yếu trồng nông sản sạch. Ông đã làm điều này như thế nào trong suốt 15 năm qua ở Việt Nam?

– Việc thi công vùng nguyên liệu cho đến bây giờ chúng tôi vẫn mất rất nhiều công sức. Chuyện được mùa mất giá – được giá mất mùa của nông nghiệp Việt Nam dường như vẫn chưa có lối ra cho đến nay.

Về vấn đề này, phải thẳng thắn nhìn nhận, nông dân Việt Nam mình rất siêng năng, nhưng không nghĩ nhiều đến ngày mai. Rất nhiều trường hợp nông dân ký hợp đồng có DN, nhưng chỉ cần thương lái Trung Quốc gom hàng, đôi khi chỉ nhỉnh hơn 500đ/kg, tức thì họ hủy hợp đồng. Do đấy, nếu DN không chủ động sẽ điêu đứng ngay.

Chúng tôi thi công được nguồn nguyên liệu ổn định từ Nam ra Bắc là 1 quá trình vô cộng gian khổ chứ không phải do Việt Nam có thế mạnh về nông nghiệp là vùng nguyên liệu, nguồn nguyên liệu ổn định đâu (cười).

Ở quê, việc hợp tác có nông dân nếu không tính toán, DN sẽ rất mệt mỏi. Do đấy, từ lâu chúng tôi đã một vàih tân chiến lược hợp tác có nông dân, thay vào đấy chúng tôi thuê hẳn đất của họ, trả tiền trước để tự canh tác, tự chủ động về giống và nông dược.

Tùy theo hộ nông dân, người thì cho thuê 6 tháng, người thì cho thuê vài năm. Nếu nông dân có thời gian thì khiến cho chúng tôi, bằng một vàih chăm sóc cây trồng trên mảnh đất họ cho chúng tôi thuê và hưởng thu nhập hằng tháng. Như vậy về mặt pháp lý, nông dân chẳng thể phân phối nông sản cho thương lái nên chúng tôi mới có thể ổn định được vùng nguyên liệu.

Chúng tôi mong muốn rằng trong thời gian tới được Nhà nước giao cho những vùng đất lớn để có thể canh tác theo mô hình cánh đồng lớn. Chúng tôi sẵn sàng đổ vốn đầu tư cho những cánh đồng hàng nghìn ha để canh tác, tạo thành những cánh đồng kiểu mẫu về diện tích, nâng công suất tăng từ 8 – 10 lần so có mô hình giai đoạn này mà NFC đang làm. Có bởi thế mới có thể tranh giành được có một vài tập đoàn lớn trong khu vực về nông nghiệp.

* Nhưng giai đoạn này nhà đầu tư không dễ tìm được quỹ đất vừa sạch vừa lớn?

– Về vấn đề này, chúng tôi đang tích cực làm việc có một vài địa phương từ miền Đông đến miền Tây Nam bộ, kể cả khu vực Tây Nguyên. Địa phương nào có chính sách phân phối hàng ưu đãi tốt, chúng tôi sẽ đầu tư.

Qua quá trình tiếp xúc và đặt vấn đề có UBND một vài tỉnh, về mặt chủ trương thì họ rất ủng hộ, nhưng về quy hoạch thì họ cũng phải có sự cân nhắc.

* Ngoài một vài sản phẩm cung cấp cho khách mua B2B, NFC có hướng đến việc phong phú hóa những sản phẩm đầu cuối, cung ứng cho khách mua B2C không, thưa ông?

– Tôi tin rằng 10 năm nữa, GDP đầu người cả nước sẽ tăng mạnh. Cùng có thu nhập tăng lên, người dân sẽ càng ngày càng quan tâm đến chất lượng nên sản phẩm nào không đạt tiêu chí về chất lượng sẽ bị đào thải. Và nếu bây giờ chúng ta không làm những việc hướng đến đảm bảo chất lượng thì 10 năm nữa sẽ không còn chỗ đứng trên phân khúc.

2 năm trở lại đấy và trong thời gian tới, chúng tôi “lấn sân” sang một vài sản phẩm hướng đến người tiêu dùng cuối cộng chứ không dừng ở một vài mặt hàng gia vị và một vài sản phẩm sấy khô. Bản thân tôi làm việc có người Nhật cũng khá lâu, nên ít nhiều trong một vàih làm việc, tôi cũng bị ảnh hưởng, đấy là đã làm gì thì phải đảm bảo, làm từ từ rồi đi lên chứ không vội vã. Thà phát triển chậm mà chắc chứ không quá nhanh, để rồi sau đấy mau tàn.

* Cảm ơn ông về những chia sẻ thú vị!

Theo Lê Hoan

Doanh Nhân Sài Gòn

Căn hộ Waterina Suites nằm trong dòng căn hộ đẳng cấp nằm trong trọng điểm hành chính quận 2 thuộc phường Thạnh Mỹ Lợi, đấy chính là sản phẩm liên doanh giữa Công ty Thiên Đức và Maeda Jimusho (Nhật Bản). Xem thêm tài liệu https://waterinasuites.info/#gia-ban-waterina-suites

Tìm hiểu thêm https://giakhanhland.vn/ban-can-ho-quan-9/

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *